Trang chủ Chuyên mục khác Nguyên nhân, triệu chứng, cách phòng ngừa bệnh tâm thần

Nguyên nhân, triệu chứng, cách phòng ngừa bệnh tâm thần

572
0

BỆNH TRẦM CẢM

  1. Tổng quan về Bệnh trầm cảm:

Trầm cảm là bệnh gìTrầm cảm là một bệnh thuộc tâm thần học đặc trưng bởi sự rối loạn khí sắc. Bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn gây nên do một yếu tố tâm lý nào nào tạo thành những biến đổi bất thường trong suy nghĩ hành vi tác phong.

Phụ nữ thường gặp bệnh trầm cảm nhiều hơn nam giới (2 nữ/ 1 nam) xảy ra ở nhiều lứa tuổi đặc biệt trong độ tuổi trưởng thành. Tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm ngày một gia tăng, theo tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 850000 chết do hành vi tự sát do bệnh trầm cảm, là một bệnh phổ biến ở trên toàn cầu. Tuy nhiên trong số đó những người được chẩn đoán và điều trị kịp thời còn rất thấp chiếm khoảng 25%.

Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp tự sát, trầm cảm do nguyên nhân khác nhau nhưng gặp tỉ lệ cao ở các đối tượng thất nghiệp, phá sản, ly hôn,…

Trầm cảm là bệnh không còn xa lạ có thể chữa trị được khỏi hoàn toàn vì vậy cần được khám và điều trị kịp thời.

  1. Nguyên nhân Bệnh trầm cảm:

Trầm cảm do các nguyên nhân sau gây nên:

– Nội sinh (trầm cảm chưa rõ nguyên nhân): có nhiều giả thuyết cho rằng do di truyền, yếu tố tự miễn, môi trường sống , xã hội nhưng chưa thực sự rõ ràng.

– Trầm cảm do căng thẳng: do áp lực từ nhiều phía như công việc, gia đình, con cái, phá sản hay do những điều đột ngột xảy đến như mất đi người thân, mất tiền của,…

– Trầm cảm có thể xuất hiện các bệnh lý hay chấn thương tác động trực tiếp đến não bộ.

– Trầm cảm có thể không rõ nguyên nhân.

  • Triệu chứng của Bệnh trầm cảm:

Bệnh trầm cảm biểu hiện bằng các triệu chứng sau đây:

– Khí sắc trầm buồn: khí sắc trầm buồn được biểu hiện qua nét mặt của bệnh nhân: buồn bã, rầu rĩ, ủ rũ nét mắt rất đơn điệu, giảm hoặc mất các nếp nhăn. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn bã, chán nản, bi quan, mất hết niềm tin trong cuộc sống.

– Mất hứng thú hoặc các sở thích trước đây: cảm giác nặng nề, mệt mỏi không muốn làm việc, đi đứng chậm chạp, luôn luôn cảm thấy mình không có đủ sức khỏe để làm việc dù là việc nhẹ, không quan tâm đến xung quanh kể cả con cái đang vui chơi cũng không để ý quan tâm. Bệnh nhân tự cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có trước đây kể cả ham muốn tình dục. Nam nữ có biểu hiện suy giảm tình dục như lãnh cảm ở nữ hoặc rối loạn cương dương ở nam giới.

– Rối loạn giấc ngủ: mất ngủ là triệu chứng hay gặp nhất chiếm 95% số trường hợp bệnh nhân trầm cảm. Bệnh nhân cảm thấy trằn trọc khó đi vào giấc ngủ mặc dù đôi khi cảm thấy rất buồn ngủ nhưng lại không thể ngủ, thức dậy sớm hơn bình thường. bệnh nhân được coi là mất ngủ khi ngủ ít hơn 2 tiếng mỗi ngày so với bình thường. Bệnh nhân có thể thức trắng cả ngày lẫn đêm trong nhiều ngày dẫn đến suy nhược cơ thể.

– Mất cảm giác ngon miệng, gầy sút cân, một số ít có biểu hiện tăng cân: bệnh nhân trầm cảm mất cảm giác ngon miệng, không muốn ăn thậm chí có trường hợp nhịn ăn hoàn toàn dẫn đến gầy sút cân. Một số ít trường hợp có cảm giác thèm ăn, ăn nhiều hơn bình thường dẫn đến tăng cân.

– Mệt mỏi, giảm tập trung, giảm sút năng lượng: hay than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân nào, giảm khả năng tập trung vì vậy hiệu quả công việc giảm sút. Cảm giác mệt mỏi thường nặng hơn vào buổi sáng. Không còn hứng thú với việc gì. Bệnh nhân mệt mỏi không muốn làm gì đối với những trường hợp nặng còn không thể thực hiện được các công việc hàng ngày như: đi ra chợ, nấu cơm, giặt quần áo.

– Cảm giác vô dụng, tội lỗi: luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, cảm giác tuyệt vọng không có lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai. Tự cảm thấy có lỗi với người thân, thua kém người khác, trở nên vô dụng.

– Biểu hiện sinh lý : nhức đầu, mỏi vai gáy, hồi hộp trống ngực, đau nhức tay chân.

– Cảm giác lo lắng vô cớ, ám ảnh bệnh tật vô lý, dễ nổi giận với những người xung quanh, có những cơn sợ hãi, ngại giao tiếp, ít quan tâm đến người khác, đòi hỏi cao về những người khác.

– Hình thức bên ngoài: ăn mặc lôi thôi lếch thếch, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc giận dữ vô cớ, giọng nói trầm buồn đơn điệu gợi ý về bệnh trầm cảm.

– Có ý định và hành vi tự sát: hầu hết bệnh nhân trầm cảm đều có ý nghĩ về cái chết nặng hơn là có ý định tự sát. Cảm giác tuyệt vọng không có lối thoát. Họ bị ám ảnh về bệnh tật, chán nản, dễ bị tổn thương dần dần tự nghĩ rằng chết đi cho đỡ đau khổ.

  1. Đối tượng nguy cơ bị bệnh trầm cảm

– Sau một sang chấn tâm lý: phá sản, mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn,…

– Sau sinh con khoảng vài tuần chiếm 1 tỷ lệ khá lớn cần được phát hiện kịp thời.

– Đối với học sinh, sinh viên: áp lực học tập quá lớn: nhiều bài vở, thi cử dồn dập, áp lực từ cha mẹ thầy cô.

– Sau tổn thương thực tổn: chấn thương sọ não,…

  1. Phòng ngừa bệnh trầm cảm:

– Đối với một số sang chấn tâm lý không thể lường trước được như mất đi người thân, phá sản cần quan tâm, gần gũi, chia sẻ lấy lại niềm tin cho người bệnh.

– Tránh các sang chấn tâm lý: gạt bỏ áp lực trong cuộc sống nếu có thể.

– Đối với những người có biểu hiện trầm cảm cần theo dõi giám sát người bệnh vì người bệnh có thể có hành vi tự sát bất kì lúc nào.

– Đưa đến khám bệnh chuyên khoa tâm thần để được chẩn đoán bệnh kịp thời.

 BỆNH ĐỘNG KINH

Động kinh là những cơn co giật và mất ý thức một cách đột ngột, ngắn, có tính chất tái phát, các cơn sau giống cơn trước.

Nguyên nhân của động kinh

Không rõ nguyên nhân: một số bệnh động kinh chưa tìm thấy nguyên nhân. Một số do các nguyên nhân sau: chấn thương sọ não các loại, nhiễm khuẩn: viêm não – viêm màng não, sán lợn trong não, nhiễm độc: thuỷ ngân, chì, asen, thuốc trừ sâu như DDT, Vôphatốc, thuốc diệt chuột … Các bệnh của não: u não, các bệnh mạch máu não …

* Các cơn động kinh thường gặp

Động kinh cơn lớn:

Triệu chứng báo trước: đau đầu, cảm giác, có tia lửa chớp trong đầu …, sau đó đột ngột mất ý thức và ngã vật ra.

Giai đoạn tiếp theo là: Người bệnh mất ý thức, toàn thân co cứng, mắt trợn, mặt tím tái. Sau đó chuyển co giật toàn thân đặc biệt là giật tay và chân. Khi hết giật, các cơ doãi, người bệnh trở nên mềm, thở trở lại. Có bệnh nhân vùng dậy nửa tỉnh nửa mê và có thể gây hành vi nguy hiểm, mọi người xung quanh cần đề phòng. Toàn bộ cơn kéo dài từ 3 đến 5 phút. Sau cơn người bệnh không nhớ điều gì xảy ra trong cơn.

Động kinh cơn nhỏ (kéo dài 1/2 đến 10 giây)

Cơn vắng: mất ý thức ngắn, không co giật. Tự nhiên ngừng hoạt động, ngừng nói, nét mặt đờ đẫn. Hết cơn lại tiếp tục làm việc hoặc nói tiếp lời nói đang bỏ dở.

Cơn mất trương lực: mất trương lực cơ đột ngột, ngắn làm người bệnh ngã khuỵu đầu cúi về phía trước. Sau đó nhổm dậy đi lại bình thường.

Cơn giật cơ hai bên: hay giật cơ chi trên, còn ý thức, xảy ra luc buồn ngủ hoặc mới thức dậy, hay gặp ở trẻ em.

Các cơn khác cần phải được bác sĩ chuyên khoa khám và chẩn đoán.
Cần làm gì đề giúp đỡ bệnh nhân động kinh?

  1. Gia đình:

Phát hiện sớm những biểu hiện bất thường, kịp thời đưa người bệnh đến khám tại các cơ sở y tế.

Động viên, an ủi, nâng đỡ người bệnh, cho uống thuốc đều, đúng chỉ định của bác sĩ.

Không cho bệnh nhân làm việc trên cao, gần lửa, gần nước.

  1. Cộng đồng:

Không phân biệt, coi thường, trêu chọc, định kiến và ngược đãi người bệnh.

Giúp đỡ người bệnh khi gặp khó khăn, tạo công việc làm phù hợp.

  1. Cán bộ y tế:

Phát hiện sớm, điều trị kịp thời và hướng dẫn phục hồi chức năng tâm lý, xã hội. Cấp phát thuốc đúng kỳ hạn và đầy đủ cho người bệnh theo quy định.

CÁCH XỬ LÝ CƠN ĐỘNG KINH

Động kinh là một bệnh mạn tính, không lây nhiễm phổ biến của hệ thần kinh trung ương, biểu hiện lâm sàng bởi những cơn động kinh. Đây là một bệnh lý khá phổ biến trong cộng đồng… Nhiều người có quan niệm cho rằng động kinh là bệnh không chữa khỏi, không tiếp cận điều trị dẫn tới bỏ lỡ cơ hội được điều trị, đặc biệt điều trị không kiên trì, bỏ cuộc giữa chừng… đã làm gián đoạn điều trị.

Các nguyên nhân có thể gặp như: Chấn thương sọ não các loại (hiện nay thường do chủ yếu là tai nạn giao thông chiếm phần lớn, trong đó tình trạng say rượu, nghiện ma túy góp phần không nhỏ); các bệnh của não bộ như tai biến mạch máu não (chảy máu não, nhũn não), u não, viêm não, các loại ngộ độc rượu, ma túy, hóa chất…Ngoài ra còn có những loại bệnh động kinh nguyên phát không rõ lý do.

  1. Biểu hiện của bệnh:

Khi lên cơn động kinh, biểu hiện thay đổi tùy người. Có người chỉ đơn giản là nhìn ngây người trong vài giây, trong khi người khác lại là một cơn co giật thực sự. Sau đây là một số biểu hiện cơ bản:

– Động kinh toàn thể: Bệnh thường dễ chẩn đoán, cơn xuất hiện rất đột ngột, người bệnh thường kêu lên một tiếng rồi ngã lăn ra, ngay lập tức mất ý thức hoàn toàn. Cơn thường trải qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn co cứng (kéo dài trong khoảng chừng một phút): Co cứng toàn bộ các cơ tứ chi, cơ ở thân, ở ngực, hai tay co, hai chân duỗi. Hậu quả gây ngưng thở, tím tái, có thể cắn vào lưỡi.

+ Giai đoạn co giật cơ (kéo dài trong khoảng chừng một vài phút): Giật cơ từng đợt đều đặn có nhịp, hai mắt trợn trừng, nhấp nháy, miệng sùi bọt có lẫn máu.

+ Giai đoạn hôn mê, lú lẫn: Sau giai đoạn co giật người bệnh vào giai đoạn hôn mê sâu, thở rống, đái trong quần. Sau đó lúc tỉnh dậy thấy đau đầu, mỏi mệt.

– Cơn không điển hình: Người bệnh chỉ mất ý thức, té ngã.

– Cơn vắng ý thức: Đặc trưng bởi sự đột ngột mất ý thức, ngừng mọi hoạt động trong thời gian rất ngắn vài chục giây. Lúc đó người bệnh như đờ đẫn, mắt nhìn vô hồn, đánh rơi bút, đồ vật đang cầm hoặc chữ viết bỗng trở nên nguệch ngoạc. Rất nguy hiểm nếu người bệnh đang điều khiển phương tiện giao thông, hay làm việc trên cao…

– Động kinh cục bộ: Ngoài ra còn có thể gặp các cơn co giật cục bộ ở mặt, một phần chi…

+ Động kinh thái dương: Bệnh còn gọi là động kinh tâm thần, rất phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm mới có thể chẩn đoán được vì biểu hiện của nó rất giống rối loạn tâm thần.

  1. Cách xử trí cơn động kinh:

– Những điều nên làm: Đưa bệnh nhân đến nơi có mặt nền an toàn. Mặt nền phải mềm, không gây tổn thương khi bệnh nhân co giật, không có vật nguy hiểm xung quanh, tránh va chạm khi bệnh nhân lên cơn giật, nới rộng quần áo bệnh nhân, kê gối dưới đầu bệnh nhân và nghiêng đầu sang một bên, ngồi bên cạnh bệnh nhân để theo dõi và chăm sóc. Đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế khám và điều trị bệnh.

– Những điều không nên làm: Không nắm giữ (ghì, đè…) cơ thể bệnh nhân: Khi thấy bệnh nhân bị co giật, không nên dùng sức mạnh của tay mình để nắm, giữ hạn chế sự co giật của tay, chân bệnh nhân vì dễ gây nên trật khớp, gãy xương hoặc tổn thương cơ. Không đưa bất kỳ vật gì vào miệng bệnh nhân: Người nhà sợ bệnh nhân cắn vào lưỡi nên thường đưa đồ vật vào miệng để hạn chế cắn vào lưỡi. Nếu đồ vật quá cứng sẽ làm gãy răng hoặc nếu vật đó quá mềm sẽ gây gãy vật đó. Cả hai đều có khả năng gây tắc đường hô hấp. Không cho bệnh nhân uống thuốc hoặc bất kỳ nước gì khi đang co giật để tránh tắc nghẽn đường hô hấp của bệnh nhân. Không ép bệnh nhân uống thuốc hoặc uống nước cho đến khi tỉnh táo hoàn toàn. Cần biết rằng cơn động kinh chỉ kéo dài từ 1-2 phút, sau đó sẽ tự ngưng.

 bệnh tâm thần phân liệt

 

  1. Thế nào là bệnh tâm thần phân liệt?

Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, có khuynh hướng tiến triển mãn tính, hay tái phát và làm mất sức lao động.

Đó là một bệnh lý của não, có những biến đổi sinh học phức tạp, chịu tác động của môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi.

Bệnh có thể chữa được hoặc thuyên giảm tốt nếu được phát hiện sớm, chữa trị kịp thời, hợp lý.

  1. Bệnh tâm thần phân liệt có những biểu hiện gì?

Người bệnh cho rằng có ý nghĩ lạ khác thường, bị người khác biết hoặc đọc được ý nghĩ của mình.

Nghi ngờ có người điều khiển, kiểm tra, chi phối, theo dõi, ám hại hay đầu độc mình, ghen thuông vô lý.

Cho mình có khả năng đặc biệt, có quyền lực như siêu nhân, có những khả năng kì lạ như: là người của trời, điều khiển được gió mưa.

Nghĩ rằng mình có những khuyết điểm lớn, có tội phải trừng trị nặng nề.

Người bệnh nghe có tiếng người nói trong đầu, ngửi hay nhìn thấy những thứ mà người khác không thấy.

Người bệnh kích động, đập phá, hò hét vô cớ, hành tung với người than hoặc hàng xóm.

Tính vui buồn thất, giận giữ thất thường, ít tiếp xúc với người xung quanh, cảm xúc khô lạnh.

  1. Cần làm gì để giúp đỡ người bệnh tâm thần phân liệt?

Phát hiện sớm những thay đổi bất thường kể  trên. Đưa người bệnh đến trạm y tế, phòng khám tâm thần để được giúp đỡ.

Quản lý và cho bệnh nhân uống thuốc đều đặn, đúng liều lượng theo chỉ định của thầy thuốc.

Cộng đồng: cần chia sẻ và cảm thông với người bệnh và gia đình họ, không riễu cợt trêu trọc, ngược đãi. Giúp đỡ động viên người bệnh tham gia lao động sinh hoạt.

Cán bộ y tế:

  • Định kì kiểm tra bệnh, tư vấn, điều trị và phục hồi chức năng TLXH, cấp phát thuốc đầy đủ cho người bệnh.
  • Hướng dẫn gia đình quản lý và cho uống thuốc đều, phát hiện sớm các triệu chứng tái phát bệnh.
  • Xử trí kịp thời các biểu hiện tái phát bệnh và những tác dụng phụ khi uống thuốc an thần kinh.
  1. Đi đâu để được giúp đỡ? Hãy đến cơ sở Y tế
  • Bệnh viện tâm thần tỉnh.
  • Trung tâm y tế huyện.
  • Trạm y tế xã, thị trấn.

   Thanh Hà – YTCC